Xử lý rác thải sinh hoạt: Khuyến khích xã hội hóa

Nguồn: (Chinhphu.vn)

Hà Nội là nơi tập trung đông dân cư và có nền kinh tế phát triển. Tuy nhiên, song song với sự phát triển này cũng nảy sinh nhiều vấn đề về môi trường, trong đó rác thải luôn là vấn đề đáng quan tâm. Để công tác xử lý rác thải tốt hơn, một trong những giải pháp hữu hiệu chính là khuyến khích xã hội hóa.

Bãi rác Nam Sơn (huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội) luôn bị quá tải- Ảnh báo Thanh niên

Quá tải rác thải tại đô thị

Theo số liệu của Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nội, hiện nay, mỗi ngày đêm, Hà Nội phát sinh gần 5.400 tấn chất thải rắn sinh hoạt, trong đó  ở khu vực các quận, thị xã là 3.200 tấn, còn lại là trên địa bàn các huyện, với khối lượng trên 2.000 tấn; 1,1 triệu m3 nước sinh hoạt bẩn nhưng chỉ 100m3 trong số  đó là được xử lý, còn lại xả thẳng ra sông, hồ… Tuy nhiên, tỷ lệ thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt vào các khu xử lý tập trung chỉ đạt gần 3.900 tấn, tương đương 72%, Hà Nội hiện chỉ có 3 trạm xử lý nước thải. Bên cạnh đó khoảng 30% bệnh viện có xử lý nước thải, còn tất cả xả thẳng vào hệ thống chung.

Tại khu vực ngoại thành Hà Nội, mỗi ngày phát sinh từ 2.500 – 3.000 tấn rác sinh hoạt. Tuy nhiên, năng lực thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải ở khu vực nông thôn rất hạn chế, chỉ đạt 70% nhu cầu, dẫn đến tình trạng rác thải tồn đọng nhiều gây ô nhiễm môi trường và làm mất mỹ quan.

Một số huyện như Phúc Thọ, Quốc Oai, Ba Vì, Chương Mỹ… việc thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt mới thực hiện ở các thị trấn và một số xã lân cận, những xã xa trung tâm chưa thu gom được rác thải về xử lý tập trung. Lượng rác thải chôn lấp tại chỗ nằm rải rác tại các khu dân cư, gây ô nhiễm môi trường. Hiện, đã có nhiều mô hình xử lý chất thải rắn được đầu tư xây dựng, vận hành, nhưng vẫn chưa được đánh giá tổng thể để lựa chọn được mô hình tối ưu, nên vẫn còn lúng túng.

Theo tính toán của các viện Quy hoạch xây dựng Hà Nội, đến năm 2030, lượng chất thải rắn phát sinh ở Hà Nội đạt 11,3 nghìn tấn mỗi ngày đêm. Con số này đang là áp lực lớn về nguồn lực tài chính, mặt bằng chôn lấp nếu không sớm áp dụng công nghệ cao vào xử lý rác thải và tăng cường công tác xã hội hóa.

Cần kêu gọi xã hội hóa

Theo TS. Hoàng Dương Tùng, Phó Tổng Cục trưởng Tổng cục Môi trường (Bộ Tài nguyên và Môi trường), tồn tại lớn nhất của công tác quản lý, xử lý chất thải nói chung và chất thải rắn sinh hoạt nói riêng là chưa áp dụng được phương thức quản lý tổng hợp, chưa chú trọng các giải pháp giảm thiểu, phân loại chất thải tại nguồn; tái sử dụng và tái chế chất thải, nhằm hướng tới giảm thiểu khối lượng chất thải phải chôn lấp.

Do vậy, để công tác xử lý rác thải tốt hơn, cần tăng cường biện pháp xã hội hóa trong thu gom và xử lý rác thải. Trong đó cần chú trọng tới chính sách “Người gây ô nhiễm phải trả tiền”, đồng thời bỏ bớt gánh nặng bao cấp cho ngân sách.

Ông Tùng cho biết, ở Việt Nam chất thải rắn sinh hoạt và nước thải sinh hoạt, vẫn dựa chủ yếu vào ngân sách hạn hẹp của Nhà nước. Ở nhiều địa phương, 80% số tiền này chỉ dùng vận chuyển, xử lý rác thải, không còn kinh phí cho các vấn đề môi trường khác. Ở Hà Nội hiện mới thu gom được khoảng 85% rác thải sinh hoạt, còn các khu vực nông thôn ngoại thành thì thu gom rác thải mới được khoảng 40-50%. Và đây mới là vấn đề của thu gom, còn xử lý rác thải đa phần vẫn là chôn lấp. Đây là hình thức rẻ nhất nhưng tiềm ẩn nhiều nguy cơ ô nhiễm khác.

Luật Bảo vệ môi trường 2005 quy định nhiều hình thức trả tiền cho hành vi gây ô nhiễm, tựu chung gắn liền với cách hiểu về chủ thể gây ô nhiễm, đó là tiền phải trả cho việc khai thác tài nguyên hay tiền phải trả cho việc phát thải vào môi trường, sử dụng một số dịch vụ môi trường. Ví dụ, phí dịch vụ gom chất thải rắn là loại phí dịch vụ môi trường, được áp dụng khi các chủ thể sử dụng dịch vụ môi trường (thu gom chất thải ). Chất thải rắn ở đây được hiểu là rác thải sinh hoạt, rác thải dịch vụ thương mại, kể cả các chất thải đô thị độc hại.

Theo ông Tùng, mặc dù nhiều nơi còn khó khăn nhưng cần phải thực hiện theo nguyên tắc đó, sau tách bạch với các chính sách an sinh xã hội, nghĩa là nơi nào khó khăn có thể có chính sách hỗ trợ riêng. Việc áp dụng nguyên tắc “Người gây ô nhiễm phải trả tiền” vừa là thể hiện trách nhiệm với xã hội, vừa là một biện pháp kinh tế hữu hiện trong bảo vệ môi trường.

Ngoài ra, ông Tùng cho rằng, cần phải phân loại rác thải tại nguồn, tổ chức hệ thống thu gom vận chuyển cho tốt, tái chế, tái sử dụng nhiều hơn. Nhiều nơi trên thế giới đã sử dụng biện pháp “zero waste”- một biện pháp tái sử dụng mới trên thế giới nhưng ở một tầm cao hơn khi giảm thiểu tối đa chất thải ra môi trường, đảm bảo lượng rác thải được quay vòng tái sản xuất hay sửa chửa và sử dụng lại trên thị trường. Ví dụ thay vì tốn nhiều tiền để xử lý và quản lý rác thải công nghiệp ở bãi rác, chuyển đổi rác thải công nghiệp thành năng lượng cung cấp cho quy trình sản xuất và nguyên liệu trong quá trình sản xuất…

Ở Hà Nội, quy trình xử lý rác thải hiện chủ yếu vẫn là chôn lấp tại bãi rác Nam Sơn (huyện Sóc Sơn), hình thức chôn lấp là chính nên sẽ gây ô nhiễm và quỹ đất dần không còn. Trước đây, Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) đã giúp Hà Nội triển khai dự án thí điểm phân loại rác tại nguồn. Nhưng khi thực hiện lại cần phải đầu tư quy trình sau phân loại. Hơn nữa, ý thức người dân chưa cao, không phải ai cũng tự giác phân loại rác.

Để đạt mục tiêu đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050 Hà Nội trở thành Thủ đô xanh – sạch, thì lượng chất thải, đặc biệt là chất thải rắn cần được phân loại, tận thu tối đa và xử lý bằng công nghệ tiên tiến. Để làm được điều này, trước hết Hà Nội phải hoàn thiện cơ chế, chính sách kêu gọi đầu tư; cần khuyến khích xã hội hóa và có kế hoạch thực hiện với lộ trình cụ thể.